DÂU TẰM

I. TÊN CHÍNH
II. TÊN KHÁC
III. TÊN KHOA HỌC
IV. BỘ PHẬN DÙNG
- Vỏ rễ cạo bỏ lớp bần bên ngoài, phơi hoặc sấy khô: Tang bạch bì (Cortex Mori albae radicis).
- Lá tươi hoặc phơi/sấy khô: Tang diệp (Folium Mori albae).
- Cành non phơi hoặc sấy khô: Tang chi (Ramulus Mori albae).
- Quả chín phơi hoặc sấy khô: Tang thầm (Fructus Mori albae).
- Tầm gửi mọc trên cây Dâu: Tang ký sinh (Ramulus Loranthi / Herba Loranthi Gracilifolii).
- Tổ bọ ngựa làm trên cây Dâu: Tang phiêu tiêu (Ootheca Mantidis).
- Nấm dâu / Mộc nhĩ cây dâu (Hirneola polytricha).
- Sâu dâu.

V. THÀNH PHẦN HÓA HỌC
- Tang bạch bì: Chứa các acid hữu cơ, tanin, pectin, flavonoid.
- Tang diệp: Chứa chlorophyl, flavonoid, coumarin.
- Tang chi: Chứa cellulose, tanin, flavonoid.
- Tang thầm: Chứa anthocyan, đường, vitamin B1, C, tanin, protein và acid hữu cơ.
VI. TÍNH VỊ
- Tang bạch bì: Vị ngọt, tính hàn (lạnh)
- Tang diệp: Vị ngọt, đắng, tính mát (hoặc tính hàn)
- Tang chi: Vị đắng, tính bình
- Tang thầm: Vị chua ngọt, tính bình (hoặc hơi ôn)
- Tang ký sinh: Vị đắng, tính bình
- Tang phiêu tiêu: Vị ngọt, mặn, tính bình
VII. QUY KINH
- Tang bạch bì: Quy vào kinh Phế
- Tang diệp: Quy vào các kinh Can, Phế
- Tang chi: Quy vào các kinh Can, Phế
- Tang thầm: Quy vào các kinh Tâm, Can, Thận
- Tang ký sinh: Quy vào các kinh Can, Thận
- Tang phiêu tiêu: Quy vào kinh Thận
VIII. CÔNG DỤNG
Nhóm thuốc chính (Công dụng điều trị chính):
- Tang bạch bì: Thuộc nhóm Thanh nhiệt phế, bình suyễn, lợi thủy tiêu thũng.
- Tang diệp: Thuộc nhóm Sơ tán phong nhiệt, thanh can minh mục, mát máu, thanh đờm.
- Tang chi: Thuộc nhóm Trừ phong thấp, thông lợi khớp.
- Tang thầm: Thuộc nhóm Bổ huyết, tư âm, sinh tân, nhuận táo.
- Tang ký sinh: Thuộc nhóm Bổ can thận, mạnh gân xương, an thai, xuống sữa
Công dụng:
- Tang bạch bì: Thanh phế bình suyễn, lợi thủy tiêu thũng. Chủ trị ho suyễn, ho sốt, ho gà, sưng phổi, đờm suyễn, đi tiểu ít, phù thũng da mặt và cơ thể.
- Tang diệp: Sơ tán phong nhiệt, thanh can minh mục, mát máu, thanh đờm. Chủ trị cảm sốt nóng có mồ hôi, đau họng, ho khan, nhức đầu, mắt đỏ, chảy nước mắt, phát ban, mồ hôi trộm.
- Tang chi: Trừ phong thấp, thông lợi khớp. Chủ trị tê thấp, đau nhức cơ khớp, chân tay co quắp, lở mép sưng lưỡi ở trẻ em.
- Tang thầm: Bổ huyết, tư âm, sinh tân, nhuận táo, thêm huyết dịch. Chủ trị thiếu máu, chóng mặt, ù tai, tóc bạc sớm, đau khớp xương, táo bón ở người già, tiêu khát (đái tháo đường).
- Tang ký sinh: Bổ can thận, mạnh gân xương, lợi huyết mạch, an thai, xuống sữa. Chủ trị đau lưng, chân tay tê dại, bại liệt, tắc sữa, động thai.
- Tang phiêu tiêu: Cố thận sáp niệu; chủ trị đái són, đái nhiều, di tinh, trẻ đái dầm.
- Nấm dâu / Mộc nhĩ cây dâu: Chữa kinh nguyệt không đều, khí hư bạch đới.
- Sâu dâu: Chữa rong huyết sau sẩy thai, trẻ cam còm, hen sữa
Cách dùng, liều lượng:
- Tang bạch bì: 6–12g/ngày, dạng thuốc sắc (thường tẩm mật sao).
- Tang diệp: 5–12g/ngày, dạng thuốc sắc.
- Tang chi: 9–15g/ngày (hoặc 20–40g/ngày tùy thang), thái miếng sao vàng sắc uống.
- Tang thầm: 9–15g/ngày (hoặc 12–20g/ngày), dạng thuốc sắc, nấu siro hoặc ngâm rượu.
- Tang ký sinh: 12–20g/ngày (hoặc tới 30g/ngày), dạng thuốc sắc.
- Tang phiêu tiêu: 6g/ngày, dạng thuốc sắc hoặc đốt quy tồn tính tán bột uống.
Kiêng kỵ:
- Người thuộc thể trạng hư hàn, ho do phế hàn hoặc tiêu hóa kém, ỉa chảy không do nhiệt độc thì không nên dùng Tang diệp, Tang bạch bì, Tang thầm
IX. CÁCH BÀO CHẾ
- Sơ chế:
- Tang bạch bì: Đào lấy rễ dưới đất, cạo bỏ hoàn toàn lớp vỏ bần thô màu vàng nâu bên ngoài, lấy lớp vỏ trắng mịn bên trong, phơi hoặc sấy khô.
- Tang diệp: Thu hái lá bánh tẻ vào mùa thu (đặc biệt sau khi có sương gọi là Sương tang diệp), phơi trong bóng râm (âm can) hoặc sấy nhẹ đến khô.
- Tang chi: Cắt lấy cành dâu non, bỏ lá, phơi/sấy khô hoặc thái lát vát rồi phơi/sấy khô.
- Tang thầm: Hái quả chín đỏ hoặc tím vào tháng 4–6, rửa sạch, phơi khô hoặc đồ qua rồi phơi/sấy khô.
- Bào chế:
- Tang bạch bì: Tước thành sợi phơi khô (Tang bạch bì sợi); hoặc Mật tang bạch bì (dùng 10kg vỏ rễ dâu tước sợi, trộn đều với 2kg mật ong đã canh, ủ cho ngấm rồi sao nhỏ lửa đến khi có màu vàng và không dính tay).
- Tang chi: Rửa sạch, ủ mềm, cắt lát dày 0,2–0,5 cm phơi khô; hoặc Tang chi sao (cho lát cành dâu vào chảo sao nhỏ lửa đến khi bề mặt hơi vàng).
- Tang thầm: Chế siro dâu (dùng 1kg quả dâu chín rửa sạch, rắc 400g đường và rưới 50ml rượu 35–40°, đậy kín trong 15 ngày, chắt lấy nước siro uống); hoặc chế rượu dâu (pha siro dâu với rượu 35–40°).
- Bảo Quản: Đựng trong bao bì kín, để nơi khô ráo, thoáng mát, phòng chống ẩm mốc và sâu mọt.
X. ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
- Cây thuộc loài gỗ nhỏ, ưa ẩm và ưa sáng, có khả năng thích nghi cao với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau (từ ôn đới ẩm đến nhiệt đới nóng ẩm)Cây mọc hoang và được trồng phổ biến rộng rãi khắp các tỉnh thành Việt Nam (từ vùng đồng bằng, bãi bồi ven sông đến vùng núi cao khoảng 1500m) để lấy lá nuôi tằm và làm thuốc
- Cây gỗ nhỏ cao 2–3 m (có thể cao tới 6m hoặc hơn)
- Cành mềm, lúc còn non có lông, sau nhẵn và có màu xám trắng
- Lá mọc so le, hình bầu dục, hình trứng hoặc hình tim, dài 3–15 cm, rộng 2,5–10 cm, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đầu nhọn, phiến lá mềm, mép khía răng cưa nhỏ đều, nguyên hoặc chia 3 thùy; có 3 gân tỏa từ gốc lá, hai mặt lá màu lục sáng; cuống lá mảnh, hơi có lông; lá kèm hình dải nhọn.
- Hoa đơn tính cùng gốc hay khác gốc; hoa đực tập hợp thành cụm bông đuôi sóc dài 1,5–2 cm; hoa cái thành bông ngắn hình trứng.
- Quả bế bao bọc trong các lá đài mọng nước tụ tập thành một quả phức (dạng mâm xôi), dài 1–2 cm, đường kính 5–8 mm; khi chín có màu đỏ sau chuyển sang tím đen (hoặc màu trắng ở loài dâu tàu), vị chua ngọt, ăn được
- Mùa hoa quả vào tháng 3–5 hoặc 5–7.
XI.. CÁCH TRỒNG
- Điều kiện đất đai: Thích hợp nhất trên đất bãi phù sa ven sông, đất thịt nhẹ hoặc đất feralit xốp, tầng canh tác dày trên 60 cm, giàu dinh dưỡng, mạch nước ngầm sâu dưới 60 cm, thoát nước tốt.
- Nhân giống: Chủ yếu nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Chọn cành 10–12 tháng tuổi trên ruộng dâu giống, chặt thành từng đoạn dài 25–30 cm.
- Thời vụ: Ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ trồng từ 15/11 đến 20/1 (tốt nhất là tháng 12 khi cành dâu chưa ra lộc); ở Nam Bộ trồng vào tháng 5, 6, 7 sau khi bắt đầu mùa mưa.
- Kỹ thuật canh tác: Đất cày sâu 15–20 cm, bừa kỹ và làm sạch cỏ. Bón lót cho 1 ha gồm 15–20 tấn phân chuồng hoai mục, 80–120 kg phân lân. Đào rãnh sâu 30–40 cm, rộng 30 cm, hàng cách hàng 1,2–1,5 m. Đặt cành dâu nghiêng, mật độ trồng 2–3 mỗ/khóm hoặc giâm hàng rào cách nhau 30–50 cm.
- Chăm sóc: Cần tưới nước giữ ẩm thường xuyên trong thời gian đầu. Định kỳ làm cỏ, xới xáo và bón thúc phân đạm, kali. Hằng năm tiến hành đốn cành vào mùa đông (đốn sát gốc hoặc đốn lửng) để cây ra chồi mới khỏe mạnh.
- Thiên địch / Sâu bệnh: Thường gặp các loại sâu hại như rầy, sâu cuốn lá, rệp búi nhựa và bệnh gỉ sắt.
- Thu hoạch: Thu hái lá dâu hằng năm để nuôi tằm hoặc làm thuốc. Thu hái quả vào tháng 3–5 khi quả chuyển sang màu đỏ hoặc tím đen. Thu hoạch vỏ rễ vào mùa thu đông hoặc đầu xuân khi cây lụi
XII. BÀI THUỐC THƯỜNG DÙNG
1. Chữa viêm họng hạt, ho khan, ho ra đờm, ho tức ngực, sốt nhẹ:
Liều lượng từng vị: Tang bạch bì 8g, Kinh giới tuệ 8g, Bạc hà 16g, Cỏ nhọ nồi 8g, Kim ngân hoa 12g, Huyền sâm 12g, Xạ can 4g, Sinh địa 12g
Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, tuyên phế chỉ ho
Kỹ thuật phối ngũ & Cách sắc: Cho tất cả các vị thuốc vào ấm, đổ nước sắc kỹ lấy 1 bát nước cốt
Cách uống: Sắc uống mỗi ngày 1 thang
2. Chữa trẻ cảm sốt có mồ hôi hay hấp nóng về đêm, mồ hôi trộm:
Liều lượng từng vị: Lá dâu bánh tẻ 15g
Công dụng: Thanh nhiệt, mát máu, chữa mồ hôi trộm
Kỹ thuật phối ngũ & Cách sắc: Lá dâu rửa sạch, cho nước vào sắc uống
Cách uống: Sắc lấy nước cho trẻ uống hằng ngày
XIII. NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đỗ Huy Bích và cộng sự (2006), Cây Thuốc Và Động Vật Làm Thuốc Ở Việt Nam, Tập 1 & Tập 2, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
- Lê Trần Đức (1997), Cây Thuốc Việt Nam, Trồng, Hái, Chế Biến, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
- Bộ Y tế (2017), Dược Điển Việt Nam V, Tập 2, NXB Y học, Hà Nội.
- Nguyễn Viết Hân, Cây Thuốc Việt Nam, Tập 3 & Tập 4.
XIV. ALBUM ẢNH THUỐC NAM
Khám phá thêm từ Cộng Đồng Xanh
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.